Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cho thấy Khung trình độ quốc gia vẫn gồm 8 bậc nhưng khối lượng kiến thức học tập (tín chỉ) ở bậc ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ có điều chỉnh một ít so với quy định trước.
Theo đó, dự thảo mới vẫn quy định Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc như Quyết định năm 2016, gồm: từ bậc 1, bậc 2, bậc 3 (các trình độ kỹ năng và sơ cấp theo mức độ tăng dần), bậc 4 (trung cấp),bậc 5 (CĐ), bậc 6 (ĐH), bậc 7 (thạc sĩ), bậc 8 (tiến sĩ).

Quy định cũ bậc ĐH yêu cầu từ 120-180 tín chỉ thì dự thảo mới về Khung trình độ quốc gia yêu cầu tối thiểu 120 tín chỉ
Ảnh: Nhật Thịnh
Tuy nhiên từ bậc 1 đến bậc 3 không còn gọi là trình độ sơ cấp I, sơ cấp II, sơ cấp III như trước, mà gọi chung là “các trình độ kỹ năng và sơ cấp theo mức độ tăng dần”.
Về khối lượng học tập tối thiểu quy định cho mỗi bậc học, so sánh 2 bảng mô tả thì từ bậc 1 đến 5 của dự thảo không thay đổi so với khung trình độ quốc gia năm 2016. Cụ thể, bậc 1 yêu cầu hoàn thành tối thiểu 5 tín chỉ, bậc 2 yêu cầu tối thiểu 15 tín chỉ, bậc 3 yêu cầu tối thiểu 25 tín chỉ, bậc 4 (trung cấp) là 35 tín chỉ và bậc 5 (CĐ) tối thiểu 60 tín chỉ.
Dự thảo không còn quy định “bậc 4 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 35 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp THPT, 50 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp THCS”.
Trong khi đó, khối lượng học tập tối thiểu của bậc 6 (ĐH), bậc 7 (thạc sĩ) và bậc 8 (tiến sĩ) đã có sự điều chỉnh.
Nếu như quy định cũ bậc ĐH yêu cầu từ 120-180 tín chỉ thì dự thảo mới yêu cầu tối thiểu 120 tín chỉ. Bậc thạc sĩ ở quy định cũ 30-60 tín chỉ thì dự thảo mới yêu cầu tối thiểu 45 tín chỉ và bậc tiến sĩ tối thiểu 90 tín chỉ trong khi quy định cũ là 90-120 tín chỉ.
Nếu như Quyết định năm 2016 có nội dung “người có bằng tốt nghiệp ĐH chương trình đào tạo có khối lượng học tập tối thiểu 150 tín chỉ, đáp ứng chuẩn đầu ra tương đương bậc 7 được công nhận có trình độ tương đương bậc 7”, và “bậc 8 yêu cầu khối lượng học tập tối thiểu 90 tín chỉ đối với người có bằng thạc sĩ, tối thiểu 120 tín chỉ đối với người có bằng tốt nghiệp ĐH” thì dự thảo mới không còn thấy nội dung này.
Ngoài ra, dự thảo không còn nội dung “người có trình độ tương đương bậc 7, hoàn thành chương trình đào tạo chuyên khoa có khối lượng học tập tối thiểu 90 tín chỉ và đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra tương đương bậc 8 được công nhận có trình độ tương đương bậc 8”.
Tại dự thảo có thêm điều khoản riêng đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Theo đó, khối lượng học tập tối thiểu đối với trình độ trung cấp là 60 tín chỉ; trình độ CĐ là 90 tín chỉ; trình độ ĐH là 150 tín chỉ (cao hơn các ngành học khác 30 tín chỉ). Trong đó, khối lượng học tập các học phần năng khiếu, thực hành chuyên môn chiếm tối thiểu 60% tổng khối lượng chương trình.
Bên cạnh đó, đối với khối ngành sức khỏe, việc thiết kế, ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo phải bảo đảm phù hợp với mô tả bậc trình độ tương ứng trong Khung trình độ quốc gia và tuân thủ quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp và pháp luật chuyên ngành y tế.
So sánh khối lượng học tập tối thiểu của các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam năm 2026 và dự thảo mới:
Bậc |
Khung trình độ quốc gia năm 2016 |
Khung trình độ quốc gia tại dự thảo mới |
|---|---|---|
| Bậc 1 | 5 tín chỉ | 5 tín chỉ |
| Bậc 2 | 15 tín chỉ | 15 tín chỉ |
| Bậc 3 | 25 tín chỉ | 25 tín chỉ |
| Bậc 4 | 35 tín chỉ | 34 tín chỉ |
| Bậc 5 | 60 tín chỉ | 60 tín chỉ |
| Bậc 6 | 120-180 tín chỉ | 120 tín chỉ |
| Bậc 7 | 30-60 tín chỉ | 45 tín chỉ |
| Bậc 8 | 90-120 tín chỉ | 120 tín chỉ |
Nguồn: thanhnien.vn





