Khai sơn ở vùng đất hoang vu, nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, chùa Bửu Hưng (Đồng Tháp) nổi tiếng với lòng từ bi và đức hạnh, đặc biệt là câu chuyện vua Gia Long tìm đến lánh nạn và ban sắc.
Chiều tà, quang cảnh chùa Bửu Hưng (xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp – trước đây là xã Long Thắng, H.Lai Vung, Đồng Tháp) đẹp như tranh vẽ. Phía trước chùa là con rạch Cái Chanh, có chiếc cầu bắc qua dòng nước hiền hòa, thơ mộng. Trong chùa có hồ sen, cây kiểng, khu tháp cổ của các trụ trì quá vãng trong vườn trúc xanh. Mỗi ngày, tiếng chuông chùa văng vẳng trong thôn xóm bình yên.

Bức tượng Phật A Di Đà tại gian chính điện chùa Bửu Hưng được cho là do vua Minh Mạng cúng dường năm 1821 ẢNH: THANH DUY
Theo sử liệu, dưới thời nhà Nguyễn, chùa Bửu Hưng thuộc địa phận thôn Hòa Long, tổng An Thới, hạt thanh tra Sa Đéc. Khoảng nửa cuối thế kỷ 18, cùng đoàn người từ miền Trung vào khai phá, đại sư Nguyễn Đăng (người Phú Xuân, Huế) đã dừng chân tại đây, lập am bằng tre lá để tu hành. Ông sống một mình trong thất, truyền bá thiền tông. Bài vị chùa có ghi “Khai sơn tạo tự, Nguyễn Đăng đại sư”, nhưng không nói ông sinh và mất năm nào.
Sau khi đại sư viên tịch, kế thế thảo am là thiền sư Tịch Châu. Thuở đó, chùa Bửu Hưng nằm cạnh một cái lung lớn, tên là Cả Cát rất vắng vẻ, ít người lui tới (nên chùa còn có tên là chùa Cả Cát – PV). Tuy nhiên, với đức hạnh cao thâm và danh tiếng tu hành của 2 vị tổ sư, gần xa đã có 10 vị tăng sĩ đến tu thiền. Am tu phải dựng thêm tăng đường bằng tre nứa, tranh vách trát bùn ở phía tây. Bên hướng đông, chùa đào một cái ao chứa nước để dùng trong mùa hạn.


Kiến trúc trong chùa đặc sắc, nhất là hệ thống tượng, bao lam, thần vọng, hoành phi, liễn đối bằng chữ Hán ẢNH: THANH DUY
Tư liệu nhà chùa ghi: “Chùa Bửu Hưng lúc này còn hoang sơ vắng vẻ, cây rừng ẩm thấp, đêm ngày thỉnh thoảng vẫn có thú rừng đến ao uống nước. Vẻ âm u cô tịch chốn thâm lâm lại xuất hiện cọp, beo cũng lần mò đến thảo am uống nước và nghe theo lời kinh chú nguyện của Tổ Tịch Châu”. Thế nên, trong chùa có ghi 2 tấm biển “Tây Thập – Đông Hổ”, nghĩa là phía tây của chùa có nhà tăng cho 10 vị ở tu, phía đông thường có cọp đến nghe kinh để nói lên sự nhiệm màu của phật pháp.
Với sự hoang vu, tự phả chùa Bửu Hưng cho biết thời chúa Nguyễn Phước Ánh (sau là vua Gia Long) những lúc quân ít thế cô đã lánh nạn nhiều nơi và có lần vào trú ẩn trong chùa. Sau khi lên ngôi, năm 1803 vua Gia Long đã ban sắc tứ cho chùa với dòng chữ “Sắc tứ Bửu Hưng Tự – Gia Long nhị niên” và Tổ Từ Lâm (vị trụ trì chùa thời ấy) được phong là “Từ Dung Hòa Thượng”, nghĩa là giàu lòng từ bi hỷ xả, lành thương dung nạp những người sa chân lỡ bước.
Tương truyền, năm 1821, vua Minh Mạng sau khi lên ngôi đã cho tạc tượng Phật A Di Đà gửi vào chùa cúng dường, để bày tỏ lòng biết ơn trụ trì chùa Bửu Hưng khi xưa đã che chở cho tiên đế. Tượng tạc bằng gỗ mít, cao hơn 2 m, được sơn son thếp vàng. Phật ngồi trong tư thế kiết già thiền định trên tòa sen. Hiện pho tượng được đặt trang trọng ngay trung tâm gian chính điện. Tuy nhiên, câu chuyện này được ghi lại theo lời kể và các tư liệu biên soạn về sau nên cần được nghiên cứu thêm.
Nhiều thiệt hại trong chiến tranh
Đến nay, chùa Bửu Hưng đã nhiều lần hư hỏng, không chỉ bởi tác động của thời gian mà còn bị chiến tranh tàn phá. Trong Tạp chí Đồng Tháp – Xưa & nay số 31 năm 2011 (của Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đồng Tháp), nhà nghiên cứu Ngô Văn Bé cho biết đầu năm 1946, Pháp tái chiếm Sa Đéc, nhân dân tỉnh lỵ Sa Đéc và làng Tân Phú Đông tản cư vào Long Thắng. Phương tiện đi chủ yếu bằng xuồng, ghe, đậu ken dài hai bên bờ rạch Cái Chanh. Số lượng lên tới vài trăm người, được nhà chùa cưu mang, cho tá túc và đãi cơm chay đạm bạc.


Năm 2007 chùa Bửu Hưng được công nhận là di tích cấp quốc gia ẢNH: THANH DUY
Lúc này, Pháp đang ra sức khai phá và bảo vệ lộ 80 huyết mạch từ Sa Đéc tới Vàm Cống. Tuy nhiên, lực lượng Vệ quốc đoàn phục kích, tấn công nhiều nơi đã gây cho đối phương nhiều thiệt hại như trận đánh xe Pháp tại cua Hòa Long, đồn Tân Thành, trận càn lớn ở xã Hỏa Thành… Để đối phó cũng như trấn an tinh thần binh sĩ, chiều ngày 3.2.1947, hai chiếc máy bay của Pháp (Avion de Chasse) đã ném 4 quả bom xuống khu vực chùa Bửu Hưng và bắn nhiều loạt đạn theo rạch Cái Chanh. Trận này giặc Pháp đã làm 3 vị tăng ni của chùa thiệt mạng, trong đó có sư trụ trì Nguyễn Hữu Chánh Viên và làm bị thương 2 phật tử. Sau trận ném bom, chùa bị hư hại nặng, hậu tổ bị sập mất một phần.
Căm thù giặc ném bom triệt phá chùa, giết oan sư vãi, 2 sa môn của chùa Bửu Hưng là thầy Khương và thầy Vinh đã xếp áo cà sa tham gia kháng chiến. Từ đó, mối quan hệ giữa nhà chùa, nhân dân (trong đó có đồng bào phật tử) và Việt Minh thêm khắng khít. Cho nên việc chùa Bửu Hưng trở thành địa điểm hội họp, nuôi chứa, tiếp tế cán bộ cũng hết sức tự nhiên.
Sau khi hòa bình lập lại, chùa Bửu Hưng trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, xây mới nhiều hạng mục. Quá trình phục hưng được thực hiện dựa vào lòng thành và sự góp sức của phật tử, người dân trong vùng. Hiện, chùa cất theo hình chữ tam (gồm tiền đường, chánh điện, nhà Tổ), trụ vững bởi 96 cây cột to tròn bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu. Đặc biệt, chính điện gồm 2 gian 3 chái rộng lớn, có nhiều tượng, bao lam, thần vọng, hoành phi, liễn đối bằng chữ Hán được chạm trổ tinh xảo và công phu. Với nhiều giá trị, năm 2007, chùa Bửu Hưng được công nhận là di tích cấp quốc gia.
Nguồn: thanhnien.vn






