Thursday, January 22, 2026

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Nguyên nhân chênh lệch môn ngữ văn

Kết quả đối sánh 5 năm (2021 – 2025) môn ngữ văn cho thấy sự chênh lệch giữa các địa phương không xuất phát chủ yếu từ đề thi khó, mà phản ánh trực tiếp chất lượng và mức độ đổi mới của hoạt động dạy – học môn này ở từng nơi.

Khi ngữ văn chuyển sang đánh giá năng lực ngôn ngữ, tư duy, lập luận và sáng tạo, khác biệt ấy càng hiện rõ. Từ đó, nhận diện được địa phương nào (trước khi sáp nhập) có tiến bộ, nơi nào còn khó khăn trong dạy và học môn này.

MẶT BẰNG CHUNG: TĂNG NHƯNG CHƯA VỮNG

Điểm trung bình môn ngữ văn toàn quốc tăng liên tục từ 6,47 năm 2021 lên 6,51 năm 2022, 6,86 năm 2023 và đạt 7,23 năm 2024, giảm nhẹ còn 7,0 vào năm 2025. Xu hướng này cho thấy học sinh (HS) ngày càng thích ứng tốt với cấu trúc đề thi, nhất là phần đọc hiểu và nghị luận xã hội. Sự dao động qua các năm phản ánh một thực tế là chất lượng dạy – học ngữ văn chưa đủ bền vững, vẫn phụ thuộc nhiều vào cách ra đề và kỹ thuật làm bài hơn là năng lực thực chất. 

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Nguyên nhân chênh lệch môn ngữ văn

Thí sinh TP.HCM tham gia thi tốt nghiệp THPT năm 2025 môn ngữ văn

ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH

Đề thi ngữ văn năm 2025 tăng đọc hiểu lên 4 điểm, giảm nghị luận còn 6 điểm, sử dụng ngữ liệu ngoài SGK và định hướng mở, chuyển trọng tâm đánh giá sang năng lực ngôn ngữ, tư duy và vận dụng, khiến thứ hạng của các địa phương biến động mạnh so với năm 2024.

Năm 2025 có 32 địa phương (cũ) tăng hạng, nhiều nơi bứt phá như Quảng Trị tăng 42 bậc, TP.HCM 30 bậc, Bến Tre 29 bậc, Hậu Giang 26 bậc, Cần Thơ và Cà Mau 20 bậc. Ngược lại, 31 địa phương giảm hạng, trong đó Ninh Bình giảm 44 bậc, Bắc Ninh 40 bậc, Hòa Bình 24 bậc, Lạng Sơn, Lâm Đồng 18 bậc, Kon Tum, Nam Định và Hải Phòng 17 bậc.

Sự phân hóa mạnh này đặt ra yêu cầu cấp thiết đổi mới dạy và học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực thực chất, đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

NHÓM DẪN ĐẦU: NỀN TẢNG QUYẾT ĐỊNH THỨ HẠNG

Nhóm này gồm 15 địa phương, chiếm 23,8%, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng nổi trội có 8 địa phương, Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long mỗi nơi có 3 địa phương, Trung du miền núi phía bắc có 1. Các địa phương như Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Phú Thọ nằm trong top 10 nhiều năm. Đây không phải những nơi giàu nhất, nhưng lại là những nơi coi ngữ văn là môn học nền tảng. Điểm chung của 15 địa phương trên là truyền thống dạy và học văn lâu dài: có đội ngũ giáo viên ổn định, HS được rèn luyện kỹ năng viết và lập luận một cách bài bản.

Nghệ An là địa phương tiêu biểu khi 2 năm liên tiếp đạt điểm trung bình trên 8,0 – mức rất cao với một đề thi mở. Trong bối cảnh ngữ văn không phải trụ cột trong tuyển sinh đại học, việc Hải Phòng xếp thứ 4/63, Hà Nội xếp thứ 11/63 (riêng năm 2025 đứng thứ 4) là những tín hiệu rất tích cực.

Hải Phòng chưa bao giờ bị “buông” ngữ văn, tuy nhiên năm 2023 tụt 17 bậc. Hà Nội, dù có quy mô lớn và phân hóa mạnh, vẫn giữ được “mạch ngầm” của môn văn, nhờ mạng lưới trường có truyền thống dạy và học văn, đội ngũ GV giàu kinh nghiệm. An Giang, Bạc Liêu, Tiền Giang cũng là những địa phương có truyền thống học văn.

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Nguyên nhân chênh lệch môn ngữ văn

NHÓM ĐỊA PHƯƠNG CÓ ĐIỂM BÌNH QUÂN TỪ 6,5 ĐẾN DƯỚI 7,0

Nhóm này có 28 địa phương, chiếm tỷ lệ 44,4%, là nhóm trung bình khá, có động lực thay đổi nên biến động lên xuống thứ hạng lớn. Nhóm này phân bố rộng khắp cả nước, nhưng không đồng đều.

Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là khu vực có mặt bằng ngữ văn tương đối khá, nhiều địa phương bứt lên rõ trong giai đoạn 2023 – 2025 như Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang, Cần Thơ. Tuy nhiên, chính sự cải thiện nhanh này cũng khiến nội vùng phân hóa mạnh. TP.HCM tiêu biểu cho xu hướng ngữ văn ở đô thị lớn với điểm bình quân 5 năm là 6,647, xếp hạng 33/63. HS TP.HCM định hướng nghề nghiệp sớm, ngữ văn không còn là môn đầu tư chiến lược, thứ hạng giảm giai đoạn 2021 – 2024 và phục hồi mạnh năm 2025 (xếp thứ 13).

Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung gồm Quảng Bình, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, TP.Huế… vốn có truyền thống học văn ổn định, nhưng cho thấy xu hướng “giảm tương đối”, chủ yếu do mức độ thích ứng với đổi mới đánh giá môn ngữ văn chậm hơn so với các vùng khác.

Trung du và miền núi phía bắc hiện diện khá rõ với Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên. Điểm chung của nhóm này là điểm số tiệm cận trung bình khá nhưng thứ hạng dao động mạnh, phản ánh chất lượng dạy học chưa đồng đều giữa các địa phương, giữa các trường.

Nhìn tổng thể, nhóm 6,5 đến dưới 7,0 chính là “vùng giao thoa” của ngữ văn cả nước: chênh lệch vùng miền đang thu hẹp, điểm số không còn quyết định, mà sự bền bỉ và khả năng thích ứng với đề thi theo hướng năng lực mới là yếu tố phân định thứ hạng.

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Nguyên nhân chênh lệch môn ngữ văn

NHÓM 20 ĐỊA PHƯƠNG DƯỚI 6,5 ĐIỂM

Nhóm này chiếm 31,8%, có đặc điểm nổi bật là thiếu tính bền vững. Nhiều địa phương có hiện tượng tăng hạng đột ngột rồi lại rơi sâu, cho thấy kết quả phụ thuộc lớn vào đề thi từng năm hơn là năng lực đọc – viết được tích lũy dài hạn.

Về địa bàn, nhóm dưới 6,5 tập trung chủ yếu ở miền núi phía bắc, Tây nguyên và một phần Bắc Trung bộ, nơi HS gặp hạn chế về năng lực tiếng Việt học thuật, thiếu môi trường đọc – viết và điều kiện dạy học còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của Đà Nẵng và Đồng Nai ở nhóm này cho thấy ngữ văn không chỉ là vấn đề của vùng khó. Trường hợp Đà Nẵng đáng chú ý: dù có điều kiện giáo dục tốt, ngữ văn lại bị coi là “môn phụ”, trong khi dạy học và chấm thi vẫn thiên về an toàn, chưa theo kịp yêu cầu đề mở và chấm thi mở.

Các địa phương miền núi như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Kon Tum tiếp tục nằm ở nhóm cuối. Điểm thấp ở đây không chỉ do kinh tế, mà do hạn chế về năng lực tiếng Việt học thuật, thiếu môi trường đọc – viết, thiếu giáo viên giỏi.

Đối sánh điểm thi tốt nghiệp THPT 5 năm: Nguyên nhân chênh lệch môn ngữ văn

Chất lượng thực chất là yếu tố quyết định thành tích 

Theo định hướng đổi mới của Bộ GD-ĐT, việc không sử dụng lại văn bản trong SGK làm ngữ liệu ra đề ngữ văn là một chuyển đổi có tính nền tảng. Chủ trương này góp phần khắc phục tình trạng học thuộc, sao chép “văn mẫu”, học tủ vốn tồn tại dai dẳng, đồng thời buộc HS vận dụng năng lực đọc hiểu, tư duy ngôn ngữ và lập luận độc lập. Tuy nhiên, kết quả đối sánh cho thấy mức độ thích ứng giữa các địa phương còn chênh lệch.

Những địa phương duy trì bền vững việc rèn luyện năng lực đọc – viết – lập luận – sáng tạo gắn với đời sống thường giữ được kết quả ổn định, bất chấp sự thay đổi đề thi và mục tiêu đánh giá. Điều đó khẳng định chất lượng thực chất mới là yếu tố quyết định thành tích bền vững.

Đối sánh cho thấy phát triển kinh tế không đồng nghĩa với kết quả môn văn cao. Khi môn học này bị xem nhẹ trong nhận thức xã hội và nhà trường, điểm số sẽ phản ánh đúng vị thế ấy. Do đó, đề thi mở chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm với dạy học mở và đánh giá mở; nếu cách dạy và chấm bài vẫn khép kín, sáng tạo khó có cơ hội hình thành.

 

 

 

 

PHIM ĐẶC SẮC
TIN MỚI NHẬN
TIN LIÊN QUAN