Trương Đăng Quế sinh năm 1793 tại làng Mỹ Khê (Bình Sơn, Quảng Ngãi). Năm 1819, ông thi đỗ Hương tiến (tương đương Cử nhân). Năm 1820, ông nhập quan trường với chức Lễ bộ hành tẩu dưới triều Minh Mạng.
Trong suốt 43 năm làm quan, Trương Đăng Quế được các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức tin dùng, giao phó đảm trách nhiều chức vụ quan trọng. Tuy quyền cao chức trọng, nhưng Trương Đăng Quế sống giản dị và thanh liêm; phong thái ung dung, tự tại. Vì thế mà ông đã hai lần được giao trọng trách Cố mạng lương thần: đưa vua Thiệu Trị lên ngai vàng (1841) và đưa vua Tự Đức lên ngôi báu (1847).

Bìa cuốn sách Bức mật thư đất – nước – gió – lửa trong Thương Sơn thi tập của tác giả Trần Như Thổ ẢNH: TƯ LIỆU
Ngày Trương Đăng Quế về hưu, đình thần đặt tiệc ở bến sông Hương; còn hoàng thân quốc thích thì bày tiệc tiễn đưa. Thơ văn tống tiễn không dưới nghìn bài.
Lúc về trí sĩ ở quê nhà, Trương Đăng Quế vẫn lo nghĩ đến chuyện quốc sự, nên thường xuyên dâng tấu tham vấn cho vua Tự Đức. Sau khi ông mất, vua và đình thần thương tiếc không nguôi; đích thân Tuy Lý Công Miên Trinh soạn văn bia khắc vào bia đá dựng trước mộ ông (Đại Nam liệt truyện, tập 3, Huế, 1993, tr.423).
Nghi Thiên Chương hoàng hậu Từ Dũ
Bà Từ Dũ tên húy là Phạm Thị Hằng, sinh năm 1810 tại Tân Hòa, Gia Định (nay thuộc huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang). Bà là con gái của Lễ bộ thượng thư Phạm Đăng Hưng, điện hàm Cần Chánh điện đại học sĩ, tước Đức Quốc Công.
Năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao hoàng hậu (mẹ vua Minh Mạng) tuyển vào cung làm vợ của hoàng trưởng tử Miên Tông đang ở tiềm để, chờ ngày nối ngôi. Năm 1829, bà sinh hạ hoàng nam Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (vua Tự Đức sau này – TN). Năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi, bà được phong làm Cung tần; năm 1843 được phong làm Thành phi; đến năm 1846 được phong làm Quý phi.
Là người thông minh, học rộng, nhớ nhiều, nên bà được vua Thiệu Trị tin cẩn, thường hay tham vấn. Khi vua ngự ở điện Khâm Văn để bàn việc nước, bà được ngồi ở sau vách để nghe lời tâu của bá quan và lời chỉ thị của vua để khi cần mà trình lại. Khi vua Thiệu Trị lâm bệnh nặng, bà hầu hạ ngày đêm, vì thế, những việc cơ mật về sau bà đều được vua dặn dò kỹ càng. Năm 1849, vua Tự Đức tôn bà làm hoàng thái hậu. Đến năm 1883, vua Tự Đức thăng hà, để lại di chiếu tấn tôn bà làm Từ Dũ hoàng thái hậu.

Tranh chân dung đại thần Trương Đăng Quế ẢNH: TƯ LIỆU
Bà Từ Dũ là người có tầm ảnh hưởng quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn trong suốt 7 đời vua, từ Tự Đức đến Thành Thái. Vì thế, các phe phái trong triều luôn tìm cách trá mệnh bà trong các việc “phế, lập” các vị vua. Sau khi xảy ra vụ Kinh đô thất thủ vào tháng 7.1885, bà bị ép đưa ra Quảng Trị nhưng bà không chịu đi, đình thần phải đưa bà tạm lánh vào Khiêm lăng. Sau khi tình hình tạm yên, Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường mới rước bà trở về hoàng cung.
Theo ghi chép của sử sách triều Nguyễn, bà là người đức hạnh, biết chăm lo cho chồng, là người mẹ nghiêm khắc của vua Tự Đức và rất được các vị vua kế nhiệm kính nể, tôn sùng. Bà mất năm 1901, hưởng thọ 92 tuổi.
Tác giả Quốc Thái, trong bài viết trên Thế Giới Mới tháng 9.1992, cho rằng vua Tự Đức không thể là con trai của Trương Đăng Quế vì không thể có chuyện “tư thông” giữa Trương Đăng Quế và Phạm Thị Hằng, bởi các lý do sau: [1] Sự cách biệt tuổi tác giữa hai người (cách 17 tuổi); [2] Miên Tông là người được chọn nối ngôi, lại rất thương yêu Phạm Thị Hằng, nên bà không có lý do gì từ bỏ ngôi vị hoàng hậu sẽ đến để dan díu với Trương Đăng Quế, khi đó mới chỉ là một vị quan nhỏ; [3] Chuyện xảy ra dưới triều Minh Mạng, là thời kỳ quân chủ pháp trị, kỷ luật nghiêm minh, trật tự quy củ, thưởng phạt đâu ra đó nên cả Trương Đăng Quế và Phạm Thị Hằng đều không dám phiêu lưu mạng sống của mình để “tư thông” với nhau.
Tuy nhiên, có một người tên là Trần Như Thổ (nay đã mất), tác giả cuốn sách Bức mật thư đất – nước – gió – lửa trong Thương Sơn thi tập (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) lại cho rằng: Việc “tư thông” giữa đại thần Trương Đăng Quế và cung nữ Phạm Thị Hằng là có thật. Ông đã dựa vào bài thơ Tống Trần Như Khuê kiêm ký bá thị Đông Sơn Doãn Lương Ngọc (Tiễn Trần Như Khuê cùng gửi bác Đông Sơn Nguyễn Lương Ngọc) của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, để biện giải cho câu chuyện “tư thông” mà ông tin là có thật, với lối giải mã rất độc đáo, đầy bất ngờ.
(Trích từ sách Huế – triều Nguyễn một cái nhìn của nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn, do NXB Thế Giới ấn hành)
Nguồn: thanhnien.vn








