Tuesday, June 16, 2026

Những khoảng trống chính sách trong dự thảo thông tư về liên thông

Liên thông ở VN đã có hơn 23 năm. Dự thảo thông tư lần này vì thế không nên chỉ viết lại quyền học tiếp, mà phải thiết kế được cơ chế liên thông minh bạch, bình đẳng và kiểm chứng được.

Điểm tiến bộ của dự thảo là đã mở rộng cách hiểu về liên thông. Không chỉ có liên thông từ thấp lên cao, mà còn có liên thông từ trình độ cao hơn để hoàn thành chương trình ở trình độ thấp hơn; không chỉ công nhận môn học, học phần, tín chỉ, mà còn nhắc đến mô đun, năng lực nghề nghiệp, chứng chỉ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và kết quả đánh giá năng lực. Đây là cách tiếp cận gần hơn với thực tế thị trường lao động, nơi năng lực không chỉ được tạo ra trong lớp học.
Những khoảng trống chính sách trong dự thảo thông tư về liên thông

Điểm tiến bộ của dự thảo thông tư liên thông là đã mở rộng cách hiểu về liên thông

ẢNH: MỸ QUYÊN

Nhưng điểm yếu lớn nhất của dự thảo là chưa đứng đủ vững trên kinh nghiệm hơn 23 năm liên thông ở VN. Trong chừng ấy năm, nhiều vấn đề đã lộ ra: quảng cáo liên thông quá đà; hứa học trường này sẽ được lên trường kia nhưng không nói rõ điều kiện; xét công nhận tín chỉ dựa nhiều vào hồ sơ chương trình chung chung; thiếu đối sánh chuẩn đầu ra thực chất… Nếu không tổng kết những vấn đề này, thông tư mới có thể vô tình hợp thức hóa lại bệnh cũ bằng ngôn ngữ mới.

Khoảng trống thứ hai là kiểm định. Liên thông không thể chỉ dựa vào thiện chí giữa hai cơ sở đào tạo. Nguyên tắc cần rất rõ: không có kiểm định hoặc bảo đảm chất lượng được xác thực thì không thể có liên thông đáng tin cậy. Một chương trình chưa được kiểm định, chưa có minh chứng về chuẩn đầu ra, đội ngũ, cơ sở thực hành, đánh giá người học và dữ liệu tốt nghiệp thì rất khó trở thành nền tảng để công nhận tín chỉ trên diện rộng.

Khoảng trống thứ ba là cơ chế đối sánh. Thông tư không nên quá chi tiết có khi không khả thi và can thiệp vào tự chủ học thuật. Nhưng thông tư phải có nguyên tắc khung thống nhất để các cơ sở căn cứ vào đó. Đối sánh phải dựa trên chuẩn đầu ra, mức độ năng lực, khối lượng học tập, nội dung cốt lõi, phương thức đánh giá, minh chứng thực hành và điều kiện bảo đảm chất lượng. Nếu chỉ giao cho từng trường tự ban hành quy định nội bộ, liên thông sẽ biến thành “luật riêng” của mỗi nơi.

Khoảng trống thứ tư là minh bạch thông tin trước tuyển sinh. Cơ sở giáo dục không chỉ thông tin chung chung rằng “có liên thông”, mà phải công khai ngành, chương trình liên thông, điều kiện đầu vào, tín chỉ tối đa có thể được công nhận…

Dự thảo cũng cần làm rõ “liên thông ngược”. Một người đã tốt nghiệp ĐH học thêm chương trình CĐ hoặc trung cấp không phải là chuyện ngược đời. Chính sách phải gọi đúng tên và giải thích đúng bản chất, nếu không xã hội sẽ hiểu sai rằng chất lượng ĐH quá kém nên người học phải quay lại học nghề.

Dự thảo có tiến bộ khi mở rộng liên thông sang công nhận kết quả học tập, tín chỉ, mô đun, năng lực nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc. Nhưng dự thảo vẫn chưa đặt liên thông trên nền đầy đủ của Khung trình độ quốc gia, vì mới xử lý từ trung học nghề trở lên, chưa làm rõ cơ chế công nhận kết quả học quá khứ (RPL), học tập phi chính quy, không chính quy và các mức năng lực thấp hơn. Muốn liên thông đúng nghĩa, phải khỏa lấp các khoảng trống về kiểm định, đối sánh chuẩn đầu ra, minh bạch thông tin, thỏa thuận giữa các cơ sở, quyền khiếu nại và dữ liệu hậu kiểm. Liên thông là một cơ chế để năng lực đã tích lũy được công nhận công bằng và chuyển hóa thành chất lượng nhân lực thật.

 

 

PHIM ĐẶC SẮC
TIN MỚI NHẬN
TIN LIÊN QUAN