Nền kinh tế Halal không chỉ là thực phẩm mà là hệ sinh thái 10.000 tỷ USD đa ngành, đa dịch vụ đang chờ doanh nghiệp Việt khai phá.
Hệ sinh thái 10.000 tỷ USD

Nền kinh tế Halal không chỉ là thực phẩm mà là hệ sinh thái 10.000 tỷ USD đa ngành
Sức hút của nền kinh tế Halal trước hết nằm ở những con số định lượng mang tính bùng nổ. Theo dữ liệu của PGS TS Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Tây Á, Nam Á và Châu Phi (ISAWASS), Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), thì quy mô nền kinh tế Halal toàn cầu hiện ghi nhận mức dao động từ 7.000 tỷ đến 10.000 tỷ USD. Sức mua này được đảm bảo bởi một cộng đồng dân số Hồi giáo thế giới đã vượt ngưỡng 2 tỷ người, tương đương 31% dân số toàn cầu. Dân số này có tốc độ tăng trưởng ấn tượng đạt 21% chỉ trong giai đoạn 2010-2020, tạo ra một thị trường tiêu dùng bền vững và liên tục mở rộng.
Cơ cấu của hệ sinh thái này đang chứng kiến sự nở rộ đa dạng, phá vỡ định kiến cho rằng Halal chỉ xoay quanh trục thực phẩm. Dữ liệu thực tế cho thấy thực phẩm và đồ uống tuy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 60%, nhưng 40% còn lại đang thuộc về các ngành hàng có giá trị cao khác. Cụ thể, thời trang kín đáo chiếm 15%, du lịch và dịch vụ khác chiếm 15%, trong khi dược phẩm và mỹ phẩm chiếm 10%. Đáng chú ý, quy mô riêng của ngành dược phẩm Halal đã đạt mốc 120 tỷ USD và mỹ phẩm Halal đạt 100 tỷ USD, mở ra những đại dương xanh cho các doanh nghiệp phi thực phẩm.
Lợi thế kinh tế
Việc theo đuổi tiêu chuẩn Halal mang lại những lợi ích tài chính trực tiếp và rõ ràng cho các đơn vị cung ứng. PGS TS Đinh Công Hoàng cho biết, sản phẩm có nhãn Halal có thể bán giá cao hơn thị trường từ 20% đến 30%. Mức chênh lệch giá này phản ánh niềm tin của người tiêu dùng vào chất lượng. Chuyên gia này khẳng định: “‘Halal-Tayyib’ là khái niệm kết hợp giữa ‘được phép’ và ‘sạch sẽ, lành mạnh’”, biến tiêu chuẩn này thành một bảo chứng cho sức khỏe và sự an toàn vượt khỏi ranh giới tôn giáo.

Sản phẩm có nhãn Halal có thể bán giá cao hơn thị trường từ 20% đến 30%
Tiềm năng tiêu thụ tại các khu vực trọng điểm như Trung Đông là một thực tế không thể bỏ qua khi các quốc gia tại đây đang phải nhập khẩu từ 80-90% lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ. Ngay tại khu vực lân cận, cộng đồng Hồi giáo ASEAN với quy mô hơn 250 triệu người cũng là một đích đến đầy hứa hẹn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Triển vọng này càng được củng cố khi dự báo GDP của khối OIC (Tổ chức Hợp tác Hồi giáo) sẽ đạt mức tăng trưởng 4% vào năm 2026, cho thấy sức mua của nhóm khách hàng này vẫn duy trì ổn định bất chấp những biến động kinh tế quốc tế.
Mục tiêu của Việt Nam
Nhận diện được tầm quan trọng của thị trường này, ông Trần Quốc Dũng, Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, cho biết Chính phủ đã ban hành Đề án phát triển ngành Halal của Việt Nam với tầm nhìn đến năm 2030. Để hỗ trợ mục tiêu này, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia đã chính thức ban hành hệ thống 7 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) dành riêng cho ngành Halal. Đồng thời, PGS TS Đinh Công Hoàng ghi nhận Việt Nam cũng đã ban hành tiêu chuẩn du lịch thân thiện với người Hồi giáo mã số TCVN 14230:2024 để kích hoạt mảng dịch vụ.
Thực tế triển khai đã có những bước đi đầu tiên khi đơn vị dược phẩm L-Pharma và hệ thống lưu trú là khách sạn William được Trung tâm Chứng nhận Halal quốc gia (HALCERT) cấp chứng nhận. Ngoài ra, 3 dự án khảo sát du lịch Halal hiện đang được triển khai tại các trọng điểm du lịch như Huế, Đà Nẵng và Khánh Hòa nhằm hoàn thiện hạ tầng đón khách.
Việt Nam nắm giữ lợi thế cạnh tranh lớn khi đã sở hữu hơn 30 nhóm ngành hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và việc tham gia 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) là đòn bẩy pháp lý cực mạnh để hàng hóa Việt tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Việt Nam đã ban hành tiêu chuẩn du lịch thân thiện với người Hồi giáo
Mặc dù có tiềm năng và sự chuẩn bị về mặt tiêu chuẩn, thực tế triển khai đang lộ rõ những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Một nghịch lý lớn được PGS TS Đinh Công Hoàng chỉ ra là dù có năng lực xuất khẩu mạnh, nhưng có tới 85% doanh nghiệp Việt Nam hiện vướng mắc ở khâu nhập khẩu phụ gia đạt chuẩn Halal. Điều này cho thấy sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào đang kìm hãm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội.
Bên cạnh rào cản kỹ thuật, hành lang pháp lý cũng có độ trễ nhất định. Theo thông tin từ ông Trần Quốc Dũng, nghị định quản lý ngành Halal dự định được ban hành nhưng tính đến thời điểm tháng 4/2026, thông tin này vẫn ở dạng kế hoạch hoặc dự kiến. Trong khi đó, áp lực cạnh tranh khu vực là vô cùng gay gắt. PGS TS Đinh Công Hoàng dẫn chứng nước láng giềng Thái Lan hiện đã có khoảng 10.000 doanh nghiệp được chứng nhận Halal, tạo ra một khoảng cách đáng kể so với sự khởi đầu của Việt Nam. Chi phí cũng là một trở ngại thực tế khi PGS TS Đinh Công Hoàng đánh giá việc sở hữu một chứng nhận Halal có thể tốn từ 50 triệu đến 200 triệu đồng, một khoản đầu tư không nhỏ đối với các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
Ông Trần Quốc Dũng đề xuất các doanh nghiệp cần triệt để áp dụng hệ thống 7 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) đã ban hành để đảm bảo tính đồng bộ kỹ thuật. Việc tuân thủ này không chỉ giúp hàng hóa đạt chuẩn tôn giáo mà còn nâng cao năng lực quản trị chất lượng theo các chuẩn mực quốc tế cao nhất.
Trong lĩnh vực dịch vụ, PGS TS Đinh Công Hoàng kiến nghị các địa phương và doanh nghiệp du lịch cần thực thi nghiêm túc tiêu chuẩn TCVN 14230:2024 để hình thành các điểm đến “thân thiện với người Hồi giáo”. Việc đẩy mạnh kết quả của 03 dự án khảo sát du lịch tại Huế, Đà Nẵng và Khánh Hòa sẽ là hình mẫu để nhân rộng ra toàn quốc, giúp đa dạng hóa nguồn khách du lịch quốc tế.
Cuối cùng, việc bám sát và thực thi các mục tiêu trong đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030” là yêu cầu bắt buộc để tạo ra sự cộng hưởng giữa chính sách nhà nước và nỗ lực của doanh nghiệp. Chỉ khi giải quyết được mâu thuẫn giữa tiềm năng nghìn tỷ và thực tế hạ tầng phụ trợ, Việt Nam mới có thể thực sự trở thành một mắt xích quan trọng trong nền kinh tế Halal toàn cầu.
Nguồn: diendandoanhnghiep.vn







