Thursday, May 14, 2026

Quản lý thuế bằng dữ liệu: Chuyển từ “hậu kiểm” sang quản trị số minh bạch, hiệu quả

VTV.vn – Quản lý thuế hiện nay được định hình theo mô hình quản trị số, lấy dữ liệu làm nền tảng để phân tích, đánh giá rủi ro và hỗ trợ người nộp thuế hiệu quả hơn.

Quản lý thuế bằng dữ liệu

Quản lý thuế bằng dữ liệu

Giảm dần phương thức quản lý thủ công

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, ngành thuế đang từng bước thay đổi căn bản phương thức quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu. Thay vì chủ yếu dựa vào hồ sơ giấy, kiểm tra sau và xử lý thủ công như trước đây, quản lý thuế hiện nay được định hình theo mô hình quản trị số, lấy dữ liệu làm nền tảng để phân tích, đánh giá rủi ro và hỗ trợ người nộp thuế hiệu quả hơn.

Theo bà Nguyễn Thu Trà, Trưởng Ban Quản lý tuân thủ và hỗ trợ người nộp thuế (Cục Thuế) quản lý thuế bằng dữ liệu là bước chuyển căn bản từ phương thức quản lý truyền thống sang quản lý dựa trên dữ liệu số được thu thập, chuẩn hóa, phân tích và cập nhật kịp thời.

“Nếu như trước đây, thông tin phục vụ quản lý còn phân tán và phụ thuộc nhiều vào kê khai của người nộp thuế thì nay cơ quan thuế đã có thêm cơ sở dữ liệu để đánh giá đầy đủ, khách quan hơn việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế”, bà Nguyễn Thu Trà cho biết.

Theo đó, mục tiêu cốt lõi của quản lý thuế bằng dữ liệu là nâng cao tính minh bạch, công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế; tăng hiệu quả quản lý, giảm rủi ro gian lận, thất thu ngân sách; đồng thời cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ và nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế.

Một trong những nguồn dữ liệu quan trọng nhất hiện nay là hệ thống hóa đơn điện tử. Theo đại diện Cục Thuế, hóa đơn điện tử phản ánh trực tiếp các giao dịch kinh tế phát sinh của người nộp thuế theo thời gian thực.

Thông qua hệ thống này, dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và tích hợp vào cơ sở dữ liệu tập trung, từ đó hỗ trợ cơ quan thuế phân tích thông tin, đối chiếu dữ liệu và cảnh báo rủi ro theo quy định.

“Đây cũng là cơ sở để giảm dần phương thức quản lý thủ công, hạn chế kiểm tra, thanh tra không cần thiết và nâng cao tính minh bạch trong thực hiện nghĩa vụ thuế”, đại diện Cục Thuế nhấn mạnh.

Không chỉ dừng ở dữ liệu nội ngành, quản lý thuế bằng dữ liệu chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được kết nối đa chiều với các cơ sở dữ liệu quốc gia, bộ, ngành, tổ chức tín dụng, sàn thương mại điện tử và các đơn vị liên quan theo quy định của pháp luật.

Việc trao đổi, chia sẻ thông tin giúp cơ quan thuế kiểm chứng dữ liệu, hỗ trợ xác minh thông tin phục vụ quản lý thuế, nhận diện rủi ro chính xác hơn; đồng thời hạn chế tình trạng yêu cầu người nộp thuế cung cấp lặp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.

Quản lý thuế bằng dữ liệu: Chuyển từ “hậu kiểm” sang quản trị số minh bạch, hiệu quả - Ảnh 1.

Việc trao đổi, chia sẻ thông tin giúp cơ quan thuế kiểm chứng dữ liệu, hỗ trợ xác minh thông tin phục vụ quản lý thuế, nhận diện rủi ro chính xác hơn

Chuyển từ ‘quản lý – kiểm soát’ sang ‘đồng hành – hỗ trợ’

Theo Cục Thuế, đây là điều kiện quan trọng để vừa nâng cao hiệu lực quản lý, vừa nâng cao chất lượng phục vụ người nộp thuế trong môi trường số. Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu cũng được thực hiện theo đúng phạm vi, thẩm quyền và quy định về bảo vệ dữ liệu.

Điểm đáng chú ý trong định hướng mới của ngành thuế là dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn được khai thác để hỗ trợ người nộp thuế tốt hơn.

Thông qua các hệ thống thuế điện tử, người nộp thuế có thể kê khai, nộp thuế, hoàn thuế hoàn toàn trực tuyến. Đồng thời, cơ quan thuế có thể cảnh báo sớm sai sót trong kê khai, hỗ trợ điều chỉnh kịp thời và phân loại mức độ tuân thủ để áp dụng cơ chế hỗ trợ phù hợp.

“Điều đó cho thấy định hướng rõ nét của ngành thuế là chuyển từ ‘quản lý – kiểm soát’ sang ‘đồng hành – hỗ trợ’ trên cơ sở dữ liệu”, đại diện Cục Thuế khẳng định.

Trong mô hình này, sự hợp tác của người nộp thuế giữ vai trò đặc biệt quan trọng để dữ liệu phản ánh đúng, đủ và kịp thời thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khi người nộp thuế kê khai trung thực, cập nhật đầy đủ thông tin đăng ký thuế, sử dụng hóa đơn điện tử đúng quy định và phối hợp cung cấp thông tin khi cần thiết, cơ quan thuế sẽ có cơ sở dữ liệu tin cậy hơn để phân tích, cảnh báo rủi ro và hỗ trợ chính xác, hiệu quả hơn.

Đáng chú ý, pháp luật quản lý thuế cũng đã ghi nhận và khuyến khích vai trò hợp tác này. Theo khoản 1 Điều 34 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, chế độ ưu tiên được áp dụng đối với người nộp thuế tuân thủ tốt pháp luật về thuế, sẵn sàng phối hợp, cung cấp và kết nối dữ liệu điện tử phục vụ quản lý thuế theo quy định.

Quy định này cho thấy việc chủ động cung cấp, cập nhật và chia sẻ dữ liệu không chỉ là trách nhiệm mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho người nộp thuế thông qua cơ chế ưu tiên trong quản lý thuế, qua đó góp phần xây dựng mối quan hệ hợp tác, minh bạch và tin cậy giữa cơ quan thuế và người nộp thuế.

Theo Cục Thuế, quan điểm xuyên suốt của ngành là quản lý chặt chẽ nhưng phải tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế. Việc ứng dụng dữ liệu không nhằm gia tăng gánh nặng hành chính mà hướng tới đơn giản hóa thủ tục, tự động hóa quy trình, giảm can thiệp thủ công và quản lý rủi ro có trọng tâm, trọng điểm.

Ngành thuế hiện tiếp tục hoàn thiện hạ tầng công nghệ, chuẩn hóa dữ liệu, mở rộng dịch vụ điện tử và tăng cường hỗ trợ để doanh nghiệp thích ứng thuận lợi hơn với môi trường số.

Một ví dụ điển hình là tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân gợi ý. Cơ quan thuế đã sử dụng dữ liệu từ hệ thống hóa đơn điện tử, dữ liệu chi trả thu nhập do tổ chức trả thu nhập kê khai cùng thông tin đăng ký thuế để tự động tổng hợp và điền sẵn nhiều chỉ tiêu trên tờ khai.

Nhờ đó, người nộp thuế chỉ cần kiểm tra, đối chiếu lại thông tin, bổ sung nếu còn thiếu và xác nhận nộp hồ sơ thay vì phải tự tổng hợp toàn bộ dữ liệu như trước đây.

Theo đánh giá của Cục Thuế, cách làm này đã giúp giảm đáng kể thời gian lập tờ khai, hạn chế sai sót, đồng thời vẫn bảo đảm cơ quan thuế có đầy đủ dữ liệu để quản lý, phân tích và hỗ trợ kịp thời.

Song song với đó, ngành thuế cũng triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện hệ thống thuế điện tử, cung cấp nhiều dịch vụ miễn phí, tổ chức tập huấn trực tiếp và trực tuyến, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền và thiết lập các kênh hỗ trợ để giải đáp kịp thời vướng mắc của người nộp thuế.

“Mục tiêu không chỉ là yêu cầu doanh nghiệp thích ứng, mà còn là tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể thích ứng thuận lợi, thực chất và bền vững hơn”, đại diện Cục Thuế cho biết.

Trong quá trình quản lý bằng dữ liệu, cơ quan thuế cũng có thể nhận diện sớm nhiều rủi ro phổ biến như sử dụng hóa đơn không hợp pháp, kê khai không trung thực, sai lệch giữa doanh thu, chi phí và dữ liệu giao dịch hoặc các biểu hiện bất thường trong dòng dữ liệu kê khai và hóa đơn.

Thông qua việc phân tích, đối chiếu và cảnh báo trên cơ sở dữ liệu, cơ quan thuế có thể sớm phát hiện các trường hợp cần rà soát, từ đó hỗ trợ người nộp thuế điều chỉnh, khắc phục kịp thời nếu có sai sót và lựa chọn đúng đối tượng cần kiểm tra.

Theo các chuyên gia, đây chính là bước chuyển quan trọng từ mô hình “hậu kiểm” sang quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu – xu hướng quản lý hiện đại đang được nhiều quốc gia áp dụng.

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh, dữ liệu ngày càng trở thành “tài nguyên” quan trọng của quản lý thuế. Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu đồng bộ, minh bạch không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần tạo lập môi trường kinh doanh công bằng, thuận lợi và thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.

Nguồn: vtv.vn

PHIM ĐẶC SẮC
TIN MỚI NHẬN
TIN LIÊN QUAN