Thursday, May 14, 2026

Du sơn ngoạn thủy: ‘Phố phường tòa dọc dãy ngang’

Trong tác phẩm Các nẻo đường trong Nam kỳ (1936), Bùi Văn Danh khuyên “làm người cũng nên đi đó đi đây” và dẫn lý do cho sự du lịch: “Ở hoài một chỗ có hơi buồn chán, cho nên cần phải đi ra cho biết đường đời. Đi đường có lúc vui lúc buồn, đi đường gặp nhiều hoàn cảnh nắng mưa, cực khổ… trục trặc… làm cho mình phải ngả lòng rũng [núng] chí mà rồi có khi cũng gặp được cãnh [cảnh] vui… người vui… gặp bạn vui… thì sự buồn vui pha lẫn rồi bỏ qua”.

“Hai bên lầu cát phố nhà phân minh”

Đầu thế kỷ 19, cảnh sắc Sài Gòn – Gia Định đã được điểm trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Đến năm 1882, Trương Vĩnh Ký xuất bản Cổ Gia Định phong cảnh vịnhKim Gia Định phong cảnh vịnh, cho độc giả đời sau biết được tổng quan Sài Gòn – Gia Định qua thơ. Như trong Kim Gia Định phong cảnh vịnh có câu “Có vườn nuôi thú nuôi cầm/Mấy ngàn thảo mộc, mấy trăm phi trùng” là Vườn Bách Thảo được xây dựng năm 1864, nay là Thảo Cầm Viên; rồi chất hiện đại của chốn phồn hoa đô hội Sài Gòn, đã hiển hiện từ cuối thế kỷ 19 với “Phố phường tòa dọc dãy ngang/Có hàng đồ Bắc, có hàng đồ Nam”.

Du sơn ngoạn thủy: 'Phố phường tòa dọc dãy ngang'

Tam quan Lăng Ông ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA

Sang đầu thế kỷ 20, Phạm Quỳnh đáp tàu thủy từ Bắc kỳ vào chơi Sài Gòn năm 1918, đã ghi chép lại cuộc thăm “Hòn ngọc Viễn Đông” trong Một tháng ở Nam kỳ. Vốn quen với phố thị Hà Nội, nên bước chân của vị chủ bút Nam Phong tạp chí khi đến Sài Gòn không ngỡ ngàng, choáng ngợp, nhưng cũng ấn tượng về một thành phố mang chất Tây.

Đường Catinat (Đồng Khởi ngày nay) thành chỉ dấu cho sự phát triển của Sài Gòn, được Phạm Quỳnh ví với đường Paul Bert (phố Tràng Tiền ngày nay) ngoài Hà Nội. “Các cửa hàng lớn, hàng Tây, hàng ta (phần nhiều người Bắc kỳ), hàng Chà (phần nhiều người Bombay bên Ấn Độ), hành khách chen nhau xin xít. Lại thêm có mấy nhà khách sạn lớn, nhà chớp bóng, nhà hát Tây, nên chiều chiều cứ tự năm giờ trở đi kẻ đi người lại như nước chảy. Người sang trọng, kẻ thượng lưu, tất mỗi buổi phải dạo qua đường Catinat một lượt mới là nền. Những trai thanh gái lịch đất Sài Gòn lấy đấy làm chốn cực phẩm phong lưu”. Trước đó, Nguyễn Liên Phong cũng đã ngợi ca sự phồn thịnh của con đường này trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (1909): “Nhứt là đường Ca-ti-na (Catinat)/Hai bên lầu cát phố nhà phân minh/Bực thềm lót đá sạch tinh/Các cữa [cửa] hàng bán lịch thanh tốt đều…”.

Nhiều công trình dinh thự của Sài Gòn được họ Phạm ghi nhận là đẹp đẽ: dinh Thống đốc Nam kỳ, Nhà hát Tây, Dinh xã Tây, nhà thờ Sài Gòn (nhà thờ Đức Bà), nhà dây thép (Bưu điện thành phố), Chợ Mới (chợ Bến Thành)… Như Dinh xã Tây, được khen là “kiểu đại khái cũng giống như các nhà thị sảnh bên Tây, trên có cái chòi vuông mấy từng cao chót vót. Mặt trước trông thẳng ra đường Charner vừa dài vừa rộng, đi đằng xa lại, coi cũng có cái vẻ trang nghiêm, xứng đáng làm nơi công sở một chốn đô hội lớn như Sài Gòn”. Riêng đường phố Sài Gòn, được ông khen là quy hoạch chỉn chu “như vẽ bằng tay, kẻ bằng thước, đều đặn, thẳng thắn, rộng rãi khang trang”.

“Ai… chè đậu… cháo cá… hông?”

Bước chân của vị ký giả đất Bắc qua cầu Bông mà tới chiêm bái Lăng Ông, địa danh linh thiêng của Nam kỳ, được Nguyễn Liên Phong diễn thơ: “Thạnh suy đã cách cuộc đời/Lê công trung liệc [liệt] gan phơi đến giờ/Nay còn mã [mả] với nhà thờ/Tục kêu lăng miểu [miễu] cỏi [cõi] bờ khuôn viên”. Đến thăm lăng, Phạm Quỳnh cho hay “miếu mạo nguy nga, cây cao rậm rạp, cũng đủ khiến cho người khách viễn du động tấm lòng hoài cổ […] nay tới đất Gia Định này được trông cái di hài của ngài năm ấy, càng cảm phục cái chí khí cương cường, cái thanh danh lẫm liệt của một bậc công thần đệ nhất nước Nam ta”. Dù mới đến, nhưng với sự tinh nhạy của một nhà báo, Phạm Quỳnh nắm bắt rất nhanh thông tin liên quan đến tín ngưỡng người dân đối với Lăng Ông. Cụ thể ở đây, Lăng Ông được xem là nơi linh thiêng, khách tứ phương đến xin xăm rất đông.

Du sơn ngoạn thủy: 'Phố phường tòa dọc dãy ngang'

Thượng công linh miếu thờ Tổng trấn Lê Văn Duyệt ẢNH: TRẦN ĐÌNH BA

Với Bình Nguyên Lộc (1914 – 1987), tác giả của Đò dọc yêu Sài Gòn trong những di tích, hàng cây, món ăn, thế nên mới có du ký Những bước chân lang thang… ghi lại những hàng me, món quà đêm, chùa chiền, đền miếu… của đất này. Thân quen đó những hàng me Chợ Cũ, hàng me phố Gia Long (Lý Tự Trọng), phố Tản Đà “giao nhành rợp bóng, những hàng me bầu bạn của người đi bộ về trưa, những hàng me tò mò dòm vào các cửa sổ tư gia”.

Ngay cả những thức quà đêm, cũng làm nên một nét ẩm thực rất riêng, rất Sài Gòn mà nếu không cảm, không yêu, không dễ gì nhận ra được. Những món chè đậu, cháo cá, bánh canh cá… bình dân vậy thôi, ăn vào không chỉ lót dạ, mà còn đã thèm, gây nhớ nữa. “Bánh canh của cô hàng hai chèo là một món quà “thống nhứt”: nước, bánh cá, hành, tiêu. Cả bốn thứ đoàn kết với nhau để biến thành một khối duy nhất có mùi vị riêng biệt khác với mùi của từng thành phần, các mùi vị ấy nương tựa lẫn nhau; thiếu một cái không xong, đồng đội xung phong lên công kích các hạch nước miếng của khách đêm”.

Ở thì quen vậy, mà đi xa, sẽ nhớ lắm những tiếng rao đêm “Pánh phò, pánh tiu, dò chó quẩy” của chú Khách giọng lơ lớ, “Kẹo đậu phộng trà Huế hông?”, “Ai… chè đậu… cháo cá… hông?” của những người bán rong. Lang thang lượm lặt, cảm nhận, lang thang nhớ. Mà ghi lại, đọc lên, người Sài Gòn hoặc không gốc Sài Gòn nhưng bén duyên với đất Sài Gòn, cứ vương vấn, nhớ nhung mãi. (còn tiếp)

 

 

 

PHIM ĐẶC SẮC
TIN MỚI NHẬN
TIN LIÊN QUAN