VTV.vn – Tính đến nay, hơn 40 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay với mức giảm khoảng 0,2 đến gần 1%/năm, chủ yếu với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Kéo giảm lãi suất cho vay
Kéo mức lãi suất cho vay xuống thấp nhất có thể để hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp và nền kinh tế… là yêu cầu của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng với ngành ngân hàng. Các ngân hàng thương mại cần chia sẻ nhiều hơn bởi lãi suất cho vay là yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.
Thống kê đến ngày 13/5 cho thấy, hơn 40 ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động và cho vay với mức giảm khoảng 0,2 đến gần 1%/năm, chủ yếu với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Ông Phạm Như Ánh – Tổng Giám đốc Ngân hàng Quân đội cho biết: “Sau khi Thống đốc họp yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, ngay lập tức MB cũng đã giảm lãi suất huy động vốn. Và song song với giảm lãi suất huy động vốn, chúng tôi cũng đã bắt đầu giảm lãi suất cho vay”.
Ông Nguyễn Hưng – Tổng Giám đốc TPBank chia sẻ: “Gần đây những khoản cho vay mới của chúng tôi lãi suất đã giảm tương đối, bình quân giảm khoảng 0,69%. Riêng đối với khách hàng doanh nghiệp, lãi suất bình quân các khoản vay mới cũng đã giảm khoảng 0,96%, tức là gần 1% so với bình thường”.

Dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống hiện đạt khoảng 828.000 tỷ đồng
Giải pháp vốn cho các dự án ứng dụng số, chuyển đổi xanh
Lãi suất giảm, chi phí giảm, doanh nghiệp sẽ đi vay nhiều hơn. Tính đến cuối tháng 4, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ước lên tới trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm qua và tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, các lĩnh vực ưu tiên đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay như nông nghiệp nông thôn khoảng 22,2%, doanh nghiệp nhỏ và vừa khoảng 20%. Tuy nhiên, trước các yêu cầu của thị trường, của thế giới về công nghệ cao, chuyển đổi số, về tăng trưởng bền vững, các doanh nghiệp đang tìm kiếm những giải pháp hỗ trợ mới.
Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao sản xuất hơn 30 loại rau củ như cải bó xôi, rau diếp, cà chua, bí Nhật, chanh leo… Mỗi tháng cung ứng khoảng 6-7 tấn rau tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng tiện ích, bếp ăn trường học. Hợp tác xã muốn áp dụng công nghệ để tăng năng suất và mở rộng quy mô.
Bà Đặng Thị Cuối – Giám đốc Hợp tác xã Rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý cho biết: “Khi có vốn, mình làm mạnh hơn. Còn không có vốn, mình cứ giật gấu vá vai, bấu từ chỗ nọ đập sang chỗ kia, không thể mạnh được. Muốn mua máy cũng phải vài trăm triệu. Mua máy đỡ được 10 công nhân”.
Còn với công ty cung cấp dịch vụ logistic tổng thể từ tiếp nhận nguyên liệu, thành phẩm, thủ tục hải quan, lưu kho đến xuất khẩu đang phải đáp ứng những yêu cầu mới về tăng trưởng bền vững từ các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu và Nhật Bản để giữ được các hợp đồng.
Ông Nguyễn Đức Ninh – Chủ tịch Công ty PI Logistics tâm sự: “Sử dụng các công nghệ xanh như điện mái năng lượng mặt trời, toàn bộ hệ thống xe nâng điện vận hành ở trong kho, cũng như các xe giao hàng từ kho của PI và kho của khách hàng đến các đại lý, các nhà phân phối đều chuyển sang xe điện. Rất mong các ngân hàng có chính sách hỗ trợ”.
Nắm bắt được nhu cầu này, các ngân hàng đang từng bước cung ứng các giải pháp về vốn và quy trình. Dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống hiện đạt khoảng 828.000 tỷ đồng.
Ông Prasenjit Chakravarti – Giám đốc Khối Chiến lược và Chuyển đổi ngân hàng Techcombank nêu ý kiến: “Toàn bộ số dư Tiền gửi xanh tại Techcombank như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi được theo dõi và sử dụng để tài trợ các dự án xanh, góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải”.
Ông Hoàng Văn Quang – Phó Giám đốc Nhà máy Số doanh nghiệp, Ngân hàng Quân đội chia sẻ: “Chúng tôi có những gói lãi suất trung hạn, với mức lãi suất bình quân thấp hơn từ 1-1,5% so với các ngành kinh tế khác. Bên cạnh đó, MB còn tham gia tư vấn trực tiếp cho khách hàng trong quá trình phát triển dự án, từ pháp lý đến kết nối đối tác bán hàng. Đây là giá trị thặng dư mà ngân hàng mang lại cho khách hàng rất lớn bên cạnh những yếu tố cốt lõi của ngân hàng truyền thống như lãi suất hay cơ chế cho vay”.
Ngoài ra, dư nợ tín dụng sau khi được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 5,7 triệu tỷ đồng, qua đó góp phần thực hiện chủ trương hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường khi thực hiện các dự án và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững.

Quy mô dự nợ tín dụng nền kinh tế đến cuối tháng 4 đã tăng 18,26% so với cùng kỳ năm ngoái
Đa dạng nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế
Quy mô dự nợ tín dụng nền kinh tế đến cuối tháng 4 đã tăng 18,26% so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này là tích cực khi dòng vốn được chảy vào sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, có áp lực khác đó là khoảng cách chênh lệch giữa lượng tiền huy động được và lượng tiền cho vay ra đang ngày càng kéo giãn, đòi hỏi phải có thêm những nguồn vốn mới ngoài tín dụng.
Bà Hà Thu Giang – Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhận định: “Tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn so với tốc độ tăng trường của huy động vốn. Chênh lệch giữa tín dụng và huy động vốn hiện nay đang tiếp tục kéo giãn. Tính đến cuối tháng 4/2026, chênh lệch này khoảng 1,4 triệu tỷ đồng”.
Để thu hẹp chênh lệch này, có ngân hàng đã tăng vốn, có ngân hàng đã cơ cấu các dòng tiền giữa các kỳ hạn đồng thời tìm kiếm những dòng vốn giá rẻ từ thị trường quốc tế
Ông Nguyễn Hưng – Tổng Giám đốc TPBank nêu ý kiến: “Vay các khoản vay dài hạn, kể cả vay ngắn hạn trên thị trường gọi là trade loan – cho vay từ các ngân hàng nước ngoài với kỳ hạn 6 tháng – 12 tháng. Những nguồn vốn ấy bổ sung cho nguồn vốn ở trong nước, không quá áp lực cho ngân hàng trong việc đua tranh lãi suất để có được nguồn vốn cho nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng”.
Ông Vũ Văn Tiền – Chủ tịch ABBank đưa ra nhận định: “Năm nay, ngân hàng An Bình quyết tâm đưa tăng vốn điều lệ lên 20.000 tỷ đồng. Đây là nguồn trích từ lợi nhuận chưa phân phối là một, hai là phát hành cổ phần cho cổ đông hiện hữu, ba là ESOP”.
Ngân hàng tăng tiềm lực vốn là cần thiết, tuy nhiên việc tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào dòng vốn ngân hàng đang gây ra nhiều áp lực khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam vào cuối năm ngoái đạt tới 145%. Điều này đòi hỏi thị trường vốn khác như trái phiếu và chứng khoán phải phát triển tương xứng để có thể đáp ứng các nhu cầu vốn, nhất là về trung và dài hạn.
Khi lãi suất hạ, dòng vốn chảy mạnh hơn vào sản xuất, đó là tín hiệu tích cực. Nhưng để tăng trưởng kinh tế đạt hai con số một cách bền vững, không thể dựa quá nhiều vào tín dụng ngân hàng. Xét trên góc độ ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước sẽ gặp khó trong việc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Do vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số hiện rất cần sự phối hợp đồng bộ hơn nữa giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và thị trường vốn.





