Những kết nối di sản có thể tạo ra nhiều sản phẩm kinh tế di sản mới, chẳng hạn một “Dòng sông tâm linh” nối những điểm có tục thờ nước ven sông Hồng…
Theo PGS-TS Việt Hương, việc chuyển từ tư duy điểm di sản sang liên kết di sản cũng là điều được UNESCO nhấn mạnh từ lâu. Bà nêu ví dụ Con đường tơ lụa, nơi giá trị nằm ở toàn bộ mạng lưới giao thương và giao lưu văn hóa trải qua nhiều thời kỳ, nhiều quốc gia. Hay mới đây, hồ sơ quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc gửi UNESCO cũng là một tuyến văn hóa như vậy.

Lễ hội rước nước sông Hồng ở đình Chèm, Hà Nội ẢNH: NAM NGUYỄN
Tác giả Nguyễn Thị Vĩnh Hà (Trường ĐH Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) lại chia sẻ cách lượng hóa giá trị di sản văn hóa với trường hợp đền Vua Đinh – Vua Lê tại quần thể danh thắng Tràng An. Theo đó, tính toán cho thấy khách nội địa tới đây sẵn sàng chi trả trung bình 750.000 đồng/lượt, còn khách quốc tế sẵn sàng chi 15,5 USD/lượt. Trên 85% khách cũng sẵn lòng đóng quỹ bảo tồn di sản có sự tham gia giám sát của cộng đồng. Nghiên cứu cũng cho thấy mức sẵn sàng chi cao hơn nếu du khách từng biết hoặc từng thăm di tích, được trải nghiệm nghi lễ truyền thống và thực tế ảo.
Nghiên cứu của TS Phạm Hồng Long (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) thì đề cập rủi ro đối với phát triển kinh tế di sản nếu để xảy ra quá tải du lịch, thương mại hóa quá mức, suy giảm bản sắc và hiện tượng “Disney hóa” di sản. Chuyên gia này đề xuất xây dựng công cụ quản lý sức tải cho từng di sản để phân bổ lượng khách, dòng khách hợp lý theo thời gian, không gian. Ông cũng lưu ý hạn chế các hoạt động thương mại có thể làm biến dạng giá trị văn hóa, đồng thời ưu tiên những thực hành văn hóa gắn liền với cộng đồng địa phương.
TS Phạm Cao Quý lại nêu các hạn chế ảnh hưởng đến kinh tế di sản, trong đó có việc tư duy quản lý hành chính đang chiếm ưu thế. Hệ quả là di sản được “quản lý” nhưng không được “vận hành” như một tài sản kinh tế. TS Quý cũng nhắc tới việc cộng đồng chưa thực sự là chủ thể hưởng lợi. Theo đó, doanh nghiệp du lịch và chính quyền hưởng lợi chính từ khai thác kinh tế di sản, còn nghệ nhân và người thực hành thường nhận thù lao không tương xứng, dẫn đến mất gắn bó dần với thực hành di sản, đặc biệt là trong thế hệ trẻ…
PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội, nhấn mạnh: “Trung tâm của kinh tế di sản phải là cộng đồng và con người, chứ không phải chỉ là thị trường”. Theo đó, nếu thương mại hóa quá nhanh, di sản có thể vẫn đông khách, nhưng lại nghèo dần về chiều sâu văn hóa, mất dần tính chân xác và suy giảm tính bền vững. PGS-TS Sơn cũng đề xuất sớm xây dựng một khung chính sách quốc gia về kinh tế di sản như một hợp phần của chiến lược phát triển văn hóa VN cũng như đề xuất thúc đẩy chuyển đổi số di sản.
Nguồn: thanhnien.vn







